Chúc bạn luôn vui vẻ Chú ý: Tên miền 2 trở lại với tốc độ cao hơnhan1visao.tk Tên miền 3 bị quá tải,tạm thời ngưng hoạt động để bảo trìhan1visao.kute.vn [phim] Kinh kong-1bộ phim viễn tưởng nổi tiếng,giờ đây bạn có thể xem lại ngay trên điện thoạixem them
Quan lớn mua vàng
Theo lệ ngày xưa, ai làm quan thì mua món gì chỉ phải trả nửa giá tiền, trừ muavàng phải trả đủ.
Một ông quan nọ vừa đến nhậm chức, bảo hiệu bán vàng đem hai lạng đến bán cho ngài. Chủ hiệu vàng nghe tiếng quan dỡ như cọp, mới bẩm:
- Vàng mỗi lạng thực giá sáu chục đồng, song quan lớn thì trả một nửa cũng được.
Quan cầm hai lạng vàng xem, rồi ung dung bỏ một lạng vào túi. Chủ hiệu tưởng quan chỉ mua có một lạng, còn lạng kia trả lại, nên khi quan vào nhà trong, anh ta vẫn đứng đấy đợi trả tiền. Hồi lâu quan ra, thấy vậy mới hỏi;
- Mua bán xong rồi còn đứng đấylàm gì?
Chủ hiệu vàng đáp :
- Con chờ quan lớn trả tiền cho.
Quan bảo:
- Tiền trả rồi, còn đòi gì nữa?
Chủ hiệu vàng đáp:
- Hai lạng, quan trả lại một lạng, lấy một lạng.
Quan nổi giận:
- Nhà người lạ thật! Nhà ngươi bảo ta trả một nửa cũng được. Tamua hai lạng, nhưng chỉ lấy một, trả lại một chẳng phải là đã trả một nửa là gì! Ông huyện với ông đồ
Có anh học trò thi đậu ôngđồ ở đâu tới xứ chỗ ông huyện nhậm để dạy học, mà hay làm ra vẻ ông đồ lắm, đờn địch chơi bời phong lưu, ông huyện không ưa mới làm một bài thơ biếm chơi rằng:
Tú tài đỗ những khoa mô?
Làm tích trong nhà mặt tỉnh khô.
Con trẻ ngất ngơ kêu cậu cống,
Mụ già nhóc nhách gọi cha đồ.
Ngày dài đờn phím nghe inh ỏi,
Buổi vắng thơ ngâm tiếng ầm ồ.
Ai khiến tới đây làm bậy bạ?
Khen cho phổi lớn quá mơ hồ.
Ông đồ nghe được thì bộ (hoạ) lại như vầy:
Biển rộng mênh mông dễ cạn khô.
Tuy chửa vẻ vang quyền cậu cống,
Song đà tỏ rõ mặt ông đồ.
Nhờ chút ơn Nghiêu nhuần phơi phới,
Sá chí muôn Chích sủa ồ ồ.
Căm loài thạc thử lòng tham cha,
Ðố khoét cho tao lúa hết bồ. Hạ khí thông
Tại một trường thi, các quan trường chấm bài xong, đembài nột cho quan chủ khảo. Ðang khi quan chủ khảo sắp bài, lờ đánh "rắm". Các quan trường đứng xung quanh đưa mắt nhìn nhau. Quan chủ khảo nói chữa thẹn: "Hạ khí
thông". Một quan trường lên tiếng "dạ".
Quá trưa, quan chủ khảo vừa ngủdậy thì cái ông quan trường nhanh nhảu lên tiếng dạ ấy, đến thưa:
- Dạ, bẩm cụ lớn, tôi đã lần được bài của Hạ khí Thông rồi. Văn không được hay lắm nhưng nhìn toàn bài cũng được ạ. Cụ lớn đã có lòng...
Quan chủ khảo ngớ người ra, không ngờ Mua kính
Anh nọ dốt đặc cán mai, thấy các ông già bà cả mang kínhxem sách, bắt chước ra chợ hỏi mua một đôi. Vào hiệu, bảo chủ hiệu đem ra cho anh ta chọn.
Anh ta đeo kính vào, lấy cuốn lịch đem theo ra xem, xem xong lại bảo chủ hiệu cho chọn đôi khác. Chủ hiệu chiều ý, chọn cho anh tanăm sáu đôi, nhưng đôi nào anh ta cũng không ưng ý. Chủ hiệu bèn chọn một đôi tốt nhát trong hiệu đưa ra. Anh ta đeo vào, lại lấy cuốn lịch ra xem, vẫn lắc đầu chê xấu. Chủ hiệu lấy làm lạ, liếc thấy anh ta cầm cuốn lịch ngược mà xem,
sinh nghi, liền hỏi:
- Sao đôi nào cũng chê xấu cả?
Anh ta đáp:
- Xấu thì bảo xấu chứ sao! Kính tốt thì tôi đã xem chữ được rồi!
Chủ hiệu nói:
- Hay là ông không biết chữ?
Anh ta đáp:
- Biết chữ thì đã không cần mua kính. Chữ tiêu chữ lẻ
Có ông thầy đồ dốt, nhưng lại muốn học trò đến đông học nên hay xổ chữ.
Ai đến chơi ngồi chuyện là ông tatìm cách hỏi cho được vài câu chữ nho, tuôn ra hàng tràng nhưng "chi hồ giả dã", ra vẻ ta đây học thông, lắm chữ.
Bà vợ ở trong nhà, nghe mãi, sốt ruột, một hôm, ngồi ăn cơm khẽ bảo chồng:
- Ông ạ! Ông có một dúm chữ thì để làm lưng làm vốn, chứ gặp ai ông cũng vung vãi ra như thế, còn gì nữa mà làm ăn.
Ông ta mắng vợ:
- Bà biết gì mà nói! chữ của thánh hiền có phải như tiền bạc đâu, cứ tiêu là hết. Với lại đó là mấy chữ lẻ, còn vốn của tôi thì tôixếp trong bụng này kia mà. Tôi chỉ tiêu những chữ lẻ đấy chứ! Lạy cụ đề ạ!
Có một thằng bé ngu tối quá. Mẹ nó đem gửi ở nhà ông thầy cho nó học.
Thầy dạy nó câu gì, nó cũng không nhớ, bảo nó cái gì, nó cũng đều quên.
Dạy mãi, mới biết được: cái ống nhổ, cái hoả lò, và cái cấp thiêu (ấm con đun nước) còn ngoài ra chẳng biết một tí gì nữa.
Một hôm, có ông Ðề là bạn của ông thầy dạy học, đến chơi nó cũng không chào. Ông thầy mới mắng:
- Cụ Ðề là bạn tao, thì cũng như tao. Sao cụ ấy đén chơi mà mầy không chào? Thế là vô phép. Hễ bận sau mầy thấy cụ ấy thì mầy phải chắp tay lại mà chào: Lạy cụ Ðề ạ! Nhớ chưa?
Thằng ấy xin vâng.
Từ ngày ấy, hễ thấy ông Ðề đến, thì nó chắp hai tay lại, chào: "Lạy cụ Ðề ạ!". Bận nào cũng thế.
Một hôm nó về chơi nhà. Mẹ nó muốn thử xem con học hành tấn tới thế nào, mới đi lấy cái điếu đem ra hỏi con rằng: - Cái này là cái gì?
Thằng bé nói: Cái ống nhổ!
Mẹ nó chán quá, lại lấy cái ấm bình tích, hỏi nó:
- Cái nầy là cái gì?
Nó trả lời: Cái hoả lò!
Giận lắm, lấy cái cơi trầu, hỏi nó: -Cái nầy là cái gì?
Nó trả lời: - Cái cấp thiêu.
Mẹ nó điên ruột, tốc ngược váy lên, hỏi gắt rằng:
- Thế thì cái này là cái gì?
Thằng bé chắp hai tay lại, mà chào rằng: - Lậy cụ Ðề ạ! Học dốt như bò
Một cậu ấm ngồi học ra rảsuốt đêm. Con bò nghe tiếng than thở với con gà.
- Nó bắt đầu đi thi, thì mày chết, nó thi đỗ thì tao chết.
Con gà nói:
- Anh không biết, chứ tôi thì tôi biết nó. Này, nó học như anh, nó viết như tôi, chắc không dám vác lều chõng vào trường thi đâu mà sợ! Chó cắn tay
Ông thầy kia thấy đứa họctrò nhỏ cầm cái bánh bàng. Thầy rằng: "Mầy đem đây tao làm cái trăng khuyết cho mầy coi".
Thằng nhỏ không dè đưa cái bánh cho thầy, thầy cắn phứt hết nửa cái, rồi nói rằng: "Ðể tao làm trăng lặn cho mầy coi!".
Thầy vừa há miệng cắn bánh, thằng nhỏ nóng ruột lấy tay đập lại, lờ thầy cắn nhầm tay, nó khóc.Thầy dỗ rằng: "Thôi thôi, bữa naytao tha mầy học.
Về nhà có hỏi thì mầy nói bị chó cắn nhầm tay nhé!".Bánh tao đâu
Ông thầy đồ nọ vốn tính tham ăn. Bữa ấy có người mời đi ăn cỗ, thầy mới cho một cậu học trò nhỏ theo hầu.
Ðến nơi, thầy ngồi vào cỗ, bảo học trò đứng bên cạnh. Trông thấy trong mâm cỗ còn nhiều bánh trái, bụng no nhưng thầy lạimuốn bỏ túi mấy chiếc.
Sợ người chung quang nom thấy thì mất thể diện, thầy mới cầm bánh thản nhiên đưa cho học trò,bảo:
- Này, con cầm lấy!
Vừa đưa, thầy vừa nháy ra hiệu bảo cất mang về cho thầy.
Cậu học trò không hiểu được cái nháy mắt thâm thuý của thầy, tưởng thầy cho thật, liền bóc ngay ra ăn.
Thầy nhìn thấy, giận lắm, nhưng giữa đông đủ mọi người, không dám mắng.
Ðến lúc ra về, thầy vẫn còn tiếc mấy cái bánh, muốn kiếm cớ để trả thù học trò.
Khi hai thầy trò đang cùng đi ngang nhau, thầy bèn giận dữ mắng học trò:
- Mày là anh em bạn với tao hay sao mà dám đi ngang hàng với tao?
Trò sợ, vội vàng đi nhanh lên trước. Thầy lại gắt:
- Mày là bố tao hay sao mà dám đitrước tao?
Trò tụt lùi lại sau. Thầy lại quát:
- Tao có phải là thằng tù đâu mà mày phải đi sau áp giải.
Trò ngơ ngác quay lại tưa:
- Bẩm bẩm, con đi thế nào thầy cũng mắng, vậy xin thầy bảo cho con nên thế nào cho phải ạ?
Thầy chẳng ngần ngại gì nữa, hầm hầm bảo:
- Thế bánh tao đâu...? Bánh tao đâu
Ông thầy đồ nọ vốn tính tham ăn. Bữa ấy có người mời đi ăn cỗ, thầy mới cho một cậu học trò nhỏ theo hầu.
Ðến nơi, thầy ngồi vào cỗ, bảo học trò đứng bên cạnh. Trông thấy trong mâm cỗ còn nhiều bánh trái, bụng no nhưng thầy lạimuốn bỏ túi mấy chiếc.
Sợ người chung quang nom thấy thì mất thể diện, thầy mới cầm bánh thản nhiên đưa cho học trò,bảo:
- Này, con cầm lấy!
Vừa đưa, thầy vừa nháy ra hiệu bảo cất mang về cho thầy.
Cậu học trò không hiểu được cái nháy mắt thâm thuý của thầy, tưởng thầy cho thật, liền bóc ngay ra ăn.
Thầy nhìn thấy, giận lắm, nhưng giữa đông đủ mọi người, không dám mắng.
Ðến lúc ra về, thầy vẫn còn tiếc mấy cái bánh, muốn kiếm cớ để trả thù học trò.
Khi hai thầy trò đang cùng đi ngang nhau, thầy bèn giận dữ mắng học trò:
- Mày là anh em bạn với tao hay sao mà dám đi ngang hàng với tao?
Trò sợ, vội vàng đi nhanh lên trước. Thầy lại gắt:
- Mày là bố tao hay sao mà dám đitrước tao?
Trò tụt lùi lại sau. Thầy lại quát:
- Tao có phải là thằng tù đâu mà mày phải đi sau áp giải.
Trò ngơ ngác quay lại tưa:
- Bẩm bẩm, con đi thế nào thầy cũng mắng, vậy xin thầy bảo cho con nên thế nào cho phải ạ?
Thầy chẳng ngần ngại gì nữa, hầm hầm bảo:
- Thế bánh tao đâu...? Sĩ diện
Một anh đồ kiết đi tìm nơi dạy học. Ðường xa, người mệt, còn trong túi vài đồng, thầy vào quán ăn vài củ khoai cho đỡ đói. Thầy vừa ăn vừa uống nước ra vẻung dung lắm. ¡n hết củ thứ nhất,rồi củ thứ hai, thầy muốn chén củnữa nhưng lại sợ hết mất tiền. Cáimiệng vẫn thòm thèm. Nhân lúc cô hàng vào bếp, thầy vội vơ nắmkhoai vắt lại bỏ vào mồm. Không ngờ, cô
hàng quay ra, nhìn thấy. Thầy cố ra vẻ thản nhiên bảo:
- Ta ăn thêm vắt xôi đậu.
Cô hàng thừa hiểu, nhưng tảng lờnhư không biết gì, bảo thầy:
- Vậy xin thầy giả tiền cả vắt xôi đậu.
Thầy bấm bụng đưa nốt đồng cuối cùng. Đánh cha già
Có ông thầy ngoài Bắc vàođất Ðồng Nai dạy trẻ con học. Họctrò quen rồi cũng học đặng ít tiếng. Bữa nọ đương uống trà, mới ra đối rằng: "Chén bé".
Trò nộ lanh, thầy đó có cái tôi, mới đối: "Bát to".
Thầy khen hay.
Trò kia ngụ ý tiếng "Bát to", mới đối rằng: "Cha già".
Thầy giận, bạt cho một tai chúi lúi, trò vừa đi vừa khóc mà rằng:"Bát to kia không đánh, lại đánh cha già!". Thầy đồ ăn vụng chè
Ông thầy đồ nọ ngồi dạy học ở nhà kia. Một hôm, nhà chủ có giỗ, nấu chè bày ngay trước mắt, thầy thèm quá không nhịn được, nhân lúc nhà chủ mải bận, thầy ăn vụng luôn mấy bát, chủ nhà biết, nhưng nể không dám nói gì, sợ thầy thẹn mà đi mất.
Ðêm đến, thầy đau bụng quá, muốn đi ngoài, nhưng lại ngại chó dữ. Túng thế, thầy mở tráp ratương ngay vào đấy.
Sáng hôm sau, mờ đất, thầy đã dậy cắp tráp đi, định ra ngoài ao quẳng đi cho mất tích.
Chẳng ngờ chủ nhà cũng dậy sớm, thấy thầy cắp tráp đi, tưởng thầy ăn vụng chè, ai nói gì, thẹn mà bỏ đi chăng, vội vàng chạy ra cố lưu thầy lại.
- Thầy đi đâu sớm thế?
- Tôi đi đằng này một lúc, xin về ngay.
- Thầy đi có việc mà mang cả trápđi. Hay là xin thầy để tráp lại đây.
- ấy không! Tôi phải mang cả trápđi, có chút việc cần.
- Thế thầy định đi thẳng hay sao? Thầy đến đây chỉ có cái tráp mà thầy lại mang cả tráp đi thì tôi không nghe. Thôi, xin mời thầy trở lại.
Nói rồi giằng lấy cái tráp. Thầy đồsợ quá, cứ giữ riết. Hai bên giằng co nhau, không may tuột tay, tráprơi xuống đất, cứt bắn ra tung toé!... Đôi câu đối chội
Thầy đồ thường dạy học trò đã đối thì phải đối cho chọi mới hay. Một hôm, thầy ra một vế đối: "Thần nông giáo dân nghệ ngũ cốc" (Thần nông dạy dân trồng ngũ cốc).
Tất cả học trò đang ngơ ngác chưa biết đối thế nào. Thì anh học trọ nọ đã gãi đầu gãi tai:
- Thưa thầy, chữ "thần" con xin đối với chữ "thánh" có chọi không ạ?
Thầy nói :
- Ðược lắm!
Anh ta lại hỏi:
- Chữ "nông", con đối với "sâu", có chọi không ạ?
Thầy nói:
- Ðược lắm!
Anh ta lại hỏi tiếp:
- Chữ "giáo" đối với "gươm","dân" đối với "vua" có chọi khôngạ?
Thầy gật đầu:
- Ðược lắm, được lắm!
Anh ta lẩm nhẩm: "Nghệ" đối với"gừng", "ngũ" đối với "tam", "cốc"đối với "cò".
Cuối cùng anh ta xin độc:
- Bây giờ con xin đối ạ! "Thần nông giáo dân nghệ ngũ cốc" con xin đối là:
"Thánh sâu gươm vua gừng tam cò". Củ này củ gì?
Một anh học trò Nghệ ra ngoài Bắc học đã ba năm. Lần này anh về thăm nhà, đi đến nhà ai, anh ta cũng nói tiếng Bắc, giọng Bắc. Một hôm cùng cha và vợ đi thăm một nhà bà con. Dọc đường thấy một người đang đào khoai lang,
anh ta liền hỏi:
- Củ này củ gì?
Cha chưa kịp trả lời, vợ đáp:
- Củ anh hay chơi!
Người cha giận lắm, nghiêm mặt nói:
- Củ gì à? Củ đã nuôi mày.
Một lần khác đến thăm một nhà bà lão. Bà lão tiếp đón anh tử tế. Anh cũng hỏi bà lão bao nhiêu tuổi, sức khoẻ ra sao, rồi mùa màng năm nay thu hoạch như thế nào. Bà lão đã nghễnh ngãng tai mà anh thì nói giọng Bắc, tiếng
Bắc, nên câu được câu không, bà chỉ trả lời anh qua loa cho xong chuyện.
Lúc anh ta ra về thì bà cụ trở vào nhà trong. Con chó vàng xổ ra, sủa inh ỏi và xồ vào anh ta, chực cắn.
Vốn nói tiếng Bắc đã nhỏ nhẹ, hơn nữa lại kênh kiệu, nên bao lần anh ta nói: "Chó nó cắn" mà bà lão vẫn không nghe. Cho đến con chó làm già, anh ta phải hét lên bằng tiếng Nghệ:
- Chó cắm tui vơ bà!
Lúc đó bà lão mới nghe. Bà liền chạy ra đe chó, anh ta mới về được. Gửi cô hàng xóm
Lại có một thầy đồ Nghệ khác làm gia sư cho một nhà nọ. bên cạnh nhà này có một chị hàng cóm goá chồng song còn trẻ đẹp, mặc dù đã có một cháu gái.
Thầy đồ ta muốn gạ gẫm đã gửi một bài thơ như sau:
Hỏi chị hoe này có biết không?
Cái xuân là cái thế gian chung
Coi chừng thói nguyệt còn ghê gớm,
Sao nỡ buồng hương để lạnh lùng.
Tại số, tại duyên hay tại phận,
Thương con, thương của hoặc thương chồng?
Hằng Nga chắc đứng trong trăng mãi,
Nào như chú Cuội cũng tình xong. Gửi cô bán thuốc
Một thầy đồ Nghệ ngồi dạy học ở Hà Nội, thường dạo chơi phố Hàng Ðào, thấy cô hàng bán thuốc bắc xinh đẹp, có duyên, một lần đến mua thuốc đãgửi bài thơ:
Nữ trinh bán thuốc phố Hàng Ðào
Khách đến mua cô bảo thế nào
Chỉ vị trần vì đánh đã vậy
Còn như liên nhục tính làm sao
Quy thân mấy lạng xin mua cả
Thạch nhũ bao đồng chớ giá cao
Bán hạ mình ơi đừng có nghĩ,
Ung dung quân tử bắc cân vào
Cố nhiên, thầy đồ ấy ngắt nhịp sau hai hai chữ "mua cô" và nhấnmạnh các chữ vừa là tên các vị thuốc bắc như: "nữ trinh", "trần bì", "liên nhục", "quy thân", "thạchnhũ", "bán hạ", "quân tử", vừa vớidụng ý trêu ghẹo một cách thôngminh. Nói chữ
Ba anh rủ nhau vào quán đánh chén. Một anh hỏi :
- Ðĩa này là đĩa thì gì ?
Một anh hay nói chữ bèn nói :
- Rõ thật "thực bất tri kì vị" (¡n màkhông biết mùi vị)
Anh thứ ba ghé vào tai anh thứ nhất, bảo :
- Nó nói xỏ anh đấy
Anh này chẳng chịu lép vế, liền nói :
- à, à anh định khinh tôi à ? Anh biết "thực bất tri kì vị" tôi, dễ thường tôi không biết "thực bất tri kì vị" anh hẳn ? Xin tiền tiên
Hai anh chàng hay nói láo.Một hôm, cùng đi tắm với nhau, anh nọ muốn loè anh kia, nên mang theo năm tiền của mình rồilặn xuống nước, lúc ngôi lên chìa năm tiền ra, nói :
- Tao lặn xuống gặp hai ông tiên đang đánh cờ. Tao vào xem thì hai ông ấy cho tao năm tiền bảo đi chỗ khác. Tao mừng quá bơi lên đây.
Anh kia biết anh này nói láo, địnhxỏ lại. Anh ta giả bộ tin là thật, hỏi:
- Thế à ! Thế thì để tao lặn xuống xem, may ra xin được mấy tiền nữa thì hay.
Nói rồi liền lặn xuống. Một lát bơi lên :
- Tao gặp hai ông tiên đánh cờ. Tao mon men đến định xin tiền , thì hai ông ấy mắng, bảo : "Thằngtrước xuống đây, đã cho năm tiền bảo về chia nhau. Vậy còn xuống quấy rầy gì nữa ?".
Biết là bị xỏ, nhưng anh nọ cũng đành phải chia cho anh kia hai tiền rưỡi. Thợ chạm rồng trỗ phụng
Anh kia bất tài, có vợ rồi rồi mà chưa có nghề gì làm ăn, đitheo bọn thợ làm tiểu công mà học. Mỗi bừa đi về hối vợ dọn cơm ăn mà thường hay nói vời vợ mình học đã thành tài, chạm trỗ giỏi : "Chạm rồng trỗ phụng làtao đây".
Chị vợ lanh không nói gì. Ðã nhiều phen anh ta nói tiếng ấy radoạ vợ, lo ăn lo uống cho khá.
Bữa kia người vợ đi xóm lật đật chạy về hào hển, ngồi thở ra. Anhchồng mới hỏi :"Chớ sao vậy ? Giống gì vậy ?" - "úy ! thôi đừng có hỏi ! Chết đi bậy giờ chớ !" - Vợ vừa thở vừa nói.
Anh chồng càng tức hỏi :"Giống gì thì cứ nói chứ, làm gì như ma bắt vậy ?"
Vợ thở dài :"úy cha ôi ! Quan quân đang đi tìm bắt thợ chạm rồng chạm phụng, làm sao hư phạm, sai kiểu cách của vua, đang đi bắt ầm ầm đó. Chưa lo vén ót đi ? Bay đầu chớ không phải chơi !!!"
Chú chàng nghe cũng đã thất kinh, nhưng nghĩ mình vô can, nên mới nói rằng :"Chạm rồng trỗ phụng là mấy anh thợ cái, chớtao thì tao cứ khiêng cây xeo gỗ cho họ làm mà thôi, tao có biết chạm trỗ ở đâu mà tao hòng lo?". Mẹ bắt hổ
Anh chàng nọ tính hay nóikhoác. Một hôm, một con chim ri bị thương bay qua nhà, rơi xuống. Anh ta bắt lấy, cắm mũi tên của mình vào rồi ném sang nhà cô gái bên cạnh. Cô này rất thích săn bắn. Nhặt được mũi tên,có con chim, cô ta rất phục anh chàng nọ bắn giỏi, rồi đem lòng yêu mến anh ta.
Sau đó hai người thành vợ chồng.
Năm ấy, có một con hổ dữ thường về làng bắt lợ, trâu, dê, cókhi bắt cả người nữa. Làng liền cử anh chàng nọ đi săn cho bằngđược. Anh ta rất lo, nhưng khôngbiết làm thế nào, đành phải đi, muốn ra sao thì ra.
Vào đến rừng, anh ta tìm một cái hang thật kín trốn ở đây, sợ đến nỗi không dám ra người ỉa đái nữa, phải bậy bạ ngay trong hang.
Vợ ở nhà chờ không thấy chồng về, sợ có chuyện gì xảy ra, liền vác cung nỏ vào rừng. Gặp hổ chịta bắn một phát, tên trúng chỗ phạm hổ chết ngay.
Rồi chị ta đi tìm chồng khặp mọi nơi. Cuối cùng thấy chồng trốn ở trong hang, xung quanh cứt đái bẩn thỉu. Chị ta kể chuyện bắn hổ,rồi hỏi chồng vì sao lại ở đây và phóng uế bừa bãi như thế. Anh chồng tỏ ý không bằng lòng, nói :
- Thôi mình làm hại tôi rồi. Hai ba ngày nay tôi chỉ chờ nó vào ăn cứt rồi bắt sống đem về nộp làng.Bây giờ mình bắn chết rồi, uổng công tôi quá ! Tài bắn giỏi
Tại vùng nọ có một anh, hễ ngồi đâu là khoe tài bắn giỏi, đi săn giỏi của mình. Một lần ngồiuống chè chát bên nhà hàng xóm, anh khoe với bà con một bận đi săn hổ hết sức li kì như sau :
- Tối hôm ấy, tôi có vào rừng săn hổ. Rình mãi, lần mò mãi, đến bênbờ suối thì thấy bên kia bờ cát trắng có một con hổ đang nằm ngủ dưới ánh trăng. Bà con có biết tôi làm gì không ?
- Lấy súng ngắm hổ chứ gì ? Có người nói.
Anh ta cười :
- Bắn làm gì cho phí đạn. Nó đangnằm ngủ kia mà. Tôi liền nhẹ nhàng lội qua suối, đi quành ra phía sau nó, rồi nhảy tới đạp mộtchân lên bụng nó và ngay lập tức lấy dao cắt phăng cái đuôi nó nhanh như cắt.
Một người khác ngạc nhiên hỏi :
- Tại sao anh không cắt cái đầu hổ cho nó oai ?
Với giọng không sôi nổi nhiệt tình như trước nưa, anh ta đáp :
- Cái đầu hổ ấy à ? Thằng cha nàođã cắt mất từ lúc nào rồi. Con rắng vuông
Anh chàng nọ tính khoác lác đã quen. Bữa kia đi chơi về bảo vợ :
- Này kình ạ ! Hôm nay tôi đi vào rừng trông thấy một con rắn, chao ôi, to đến là to, dài đến là dài. Bề ngang thì chắc chắn là bốn mươi thước rồi, còn bề dài thì dễ đến hơn trăm thước.
Vợ không tin, nhưng cũng định trêu chồng một mẻ :
- Tôi nghe người ta nói có rắn dàiđã nhiều. Nhưng làm gì có giống rắn dài như anh nói thế. Tôi nhất định không tin.
Chồng làm như thật :
- Thật quả có rắn như thế. Dài hơn một trăm thước thì chẳng đến, nhưng tám mươi thì nhất định.
Vợ bĩu môi :
- Cũng chẳng đến !
Chồng cương quyết :
- Tôi chắc chắn là nó dài sáu mươi thước chứ không ngoa.
Vợ vẫn khăng khăng :
- Vẫn không dài đến nước ấy đâu!
Chồng rút lui một lần nữa :
- Lần này tôi nói thật nhé. Con rắndài đến bốn mươi thước, không kém một phân.
Vợ bò lăn ra cười :
- Con rắn anh thấy, bề ngang đã chắc chắn là bốn mươi thước, bề dài cũng lại đến bốn mươi thước không kém một phân thì chẳng hoá ra là con rắn vuông à ? Chuyện lạ phương xa
Trên một chiếu rượu, bốn cụ đã ngà ngà say liền đem chuyện lạ phương xa tán với nhau.
Cụ thứ nhất bắt đầu :
- Một bận đi tôi sông Bồ Ðề, thấy một con trâu to lù lù như quả núi,đứng bên này sông vươn cổ sangbên kia sông ăn hết ba mẫu lúa.
Cụ thứ hai tủm tỉm tiếp lời :
- Thế thì đã lấy gì làm lạ. Tôi từng thấy một cây mây to và dài bằng dãy núi Trường Sơn.
Cụ thứ nhất nói kháy :
- Chắc hẳn thân cây phải to bằng cái đình làng, cụ nhỉ ?
Cụ thứ hai thản nhiên đáp :
- Hẳn chứ lị ! Không thì thừng chão nào xỏ được vừa mũi con trâu của cụ kể ?
Cụ thứ ba vội ngắt lời :
- Thế mà các cụ đã cho là lạ à ? Tôi còn thấy một cái cây, chao ôi !Nó cao đâu mà cao thế ! Tưởng chọc thủng trời, đi vòng quang gốc cây một vòng phải mất nửa tháng.
Hai cụ kia cãi :
- Vô lí, vô lí !
Cụ thứ ba gắt :
- Chứ không thì lấy cọc đâu mà mà buộc được dây xỏ mũi con trâu của hai cụ !
Cụ thứ tư nói giọng lè nhè :
- Các cụ đều có lí cả, cãi nhau làm gì... Tuy thế mà cũng chưa lạ lắm.
Tôi còn thấy một cái trống to vô cùng, đánh một tiếng vang chuyển một phương trời...
Ba cụ kia nhao nhao hỏi :
- Trống ấy to bằng ngần nào mà kêu thế ?
- ấy, các cụ cứ lượng ra mà đoán khắc biết, lột da con trâu đứng bên sông
Bồ Ðề làm mặt trống, lấy cây gỗ cao chọc thủng trời làm tang trống, còn cây mây to dài suốt dãy Trường Sơn làm đai trống.
Biết cụ này xỏ, ba cụ kia hỏi vặn lại :
- Thế này khí không phải, chứ trống ấy của cụ thì treo vào đâu mà đánh nhỉ ?
Cụ thứ tư đang luống cuống chưatìm ra câu trả lời, may sao có người đứng hầu rượu ngay sau lưng vội đỡ lời :
- Bẩm, xin các cụ cho phép con nói.
Các cụ quay lại nhìn người ở, rồi gật gù nói :
- Ðược, cứ nói.
Người ở gãi tai, thưa :
- Bẩm cái trống ấy treo cái cầu mà hai bố con đã đi qua. Bẩm, đứng trên cầu mà nhìn xuống, con trâu vươn cổ qua sông Bồ Ðềchỉ bằng con rận, cây mây dài suốt dãy Trường Sơn bằng một sợi tóc còn cái cây cao chọc trời thì không bằng cây nấm... Chao ôi! Bố con mải nhìn chóng mặt quálộn cổ xuống sông, Con khóc sướt mướt, về để tang ba năm, khi đoạn tang đi qua vẫn thấy
bố con lơ lửng giữa trời chứ chưa rơi xuống nước. Mắt tinh, tai thính
Hai anh nói khoác gặp nhau, một anh khoe rằng :
- Mắt tớ tinh không bằng. Kìa ! Một con kiến đang bò ở cành cây trên đỉnh núi phía trước mặt, tớ trông rõ mồn một cả sợi râu cho đến bước chân đi của nó.
Anh kia cắt ngang :
- Thế cùng chưa tinh bằng tớ tớ còn nghe thấy sợi rây của nó ngoáy không khí kêu vù vù và chân nó bước kêu sột soạt.Có thuế ghê không
Hai anh nói khoác gặp nhau. Một anh nói :
- Ðời tớ gặp rất nhiều chuyện nguy hiểm. Một lần tớ vào rừng gặp một con hổ dữ, tay không đánh nhau với nó hàng nửa ngày. Nhưng rồi cuối cùng tớ bị con hổ xé ra từng mảnh nhỏ. Thếcó ghê không ?
Anh kia nói :
- Chưa ghê bằng tớ. Một lần tớ gặp con trăn. Nó đớp được hai chân tớ nuốt gần hết, tớ giang thẳng hai cánh tay ra ngàng lại. Nhưng đến phút cuối cùng, vừa đau vừa mỏi, tớ đành buông xuôihai tay cho nó nuốt tụt vào bụng, rồi gọi người làng ra cứu.Đánh phách
Dở thì hay đánh khác. Lão kia mới học nghề võ nhom nhem biết được một hai miếng, đến đâu thì đánh phách khua mỏ rân đến đó. Bữa kia anh ta đánh ba hột cơm dằn bụng, xách dù ra đi dạo xóm chơi. Nhằm bữa nước rông ngập, cầu kì trôi đi hết. Tới cái rạch rộng, không biết liệu làmsao mà qua. Liền cởi quần cởi áo buộc trên đầu mà long quang qua. Mặc quần áo lại đi xăm
xúi tới nhà quen đó, vào trầu nước, ngồi một lát mới nói :"Cha chả ! Lâu ngày nhảy, hôm nay qua rách nước rông trôi cầu đi mất, làm tôi phải nhảy, dám mỏi đùi kinh đi đó !".
Chủ nhà biết nó nói phách mà lại nói láo, vì hồi nó lột thì chủ nhà đang ở trên cây cau bẻ cau thấy rõ ràng nó tuột quần đội đầu lội qua, thì nói lại rằng :"Cơ khổ ! Vậymà hồi nãy tôi leo hái cau, tôi thấy ai đó vấn quần vấn áo trên đầu mà lội qua, tôi nói là anh đó đấy !". Có thuế ghê không
Hai anh nói khoác gặp nhau. Một anh nói :
- Ðời tớ gặp rất nhiều chuyện nguy hiểm. Một lần tớ vào rừng gặp một con hổ dữ, tay không đánh nhau với nó hàng nửa ngày. Nhưng rồi cuối cùng tớ bị con hổ xé ra từng mảnh nhỏ. Thếcó ghê không ?
Anh kia nói :
- Chưa ghê bằng tớ. Một lần tớ gặp con trăn. Nó đớp được hai chân tớ nuốt gần hết, tớ giang thẳng hai cánh tay ra ngàng lại. Nhưng đến phút cuối cùng, vừa đau vừa mỏi, tớ đành buông xuôihai tay cho nó nuốt tụt vào bụng, rồi gọi người làng ra cứu.Đánh phách
Dở thì hay đánh khác. Lão kia mới học nghề võ nhom nhem biết được một hai miếng, đến đâu thì đánh phách khua mỏ rân đến đó. Bữa kia anh ta đánh ba hột cơm dằn bụng, xách dù ra đi dạo xóm chơi. Nhằm bữa nước rông ngập, cầu kì trôi đi hết. Tới cái rạch rộng, không biết liệu làmsao mà qua. Liền cởi quần cởi áo buộc trên đầu mà long quang qua. Mặc quần áo lại đi xăm
xúi tới nhà quen đó, vào trầu nước, ngồi một lát mới nói :"Cha chả ! Lâu ngày nhảy, hôm nay qua rách nước rông trôi cầu đi mất, làm tôi phải nhảy, dám mỏi đùi kinh đi đó !".
Chủ nhà biết nó nói phách mà lại nói láo, vì hồi nó lột thì chủ nhà đang ở trên cây cau bẻ cau thấy rõ ràng nó tuột quần đội đầu lội qua, thì nói lại rằng :"Cơ khổ ! Vậymà hồi nãy tôi leo hái cau, tôi thấy ai đó vấn quần vấn áo trên đầu mà lội qua, tôi nói là anh đó đấy !". Đánh phách
Dở thì hay đánh khác. Lão kia mới học nghề võ nhom nhem biết được một hai miếng, đến đâu thì đánh phách khua mỏ rân đến đó. Bữa kia anh ta đánh ba hột cơm dằn bụng, xách dù ra đi dạo xóm chơi. Nhằm bữa nước rông ngập, cầu kì trôi đi hết. Tới cái rạch rộng, không biết liệu làmsao mà qua. Liền cởi quần cởi áo buộc trên đầu mà long quang qua. Mặc quần áo lại đi xăm
xúi tới nhà quen đó, vào trầu nước, ngồi một lát mới nói :"Cha chả ! Lâu ngày nhảy, hôm nay qua rách nước rông trôi cầu đi mất, làm tôi phải nhảy, dám mỏi đùi kinh đi đó !".
Chủ nhà biết nó nói phách mà lại nói láo, vì hồi nó lột thì chủ nhà đang ở trên cây cau bẻ cau thấy rõ ràng nó tuột quần đội đầu lội qua, thì nói lại rằng :"Cơ khổ ! Vậymà hồi nãy tôi leo hái cau, tôi thấy ai đó vấn quần vấn áo trên đầu mà lội qua, tôi nói là anh đó đấy !". Quả bí, cái xanh
Có hai anh đi đường xa. Một anh trông thấy cái miếu liền nói khoác với bạn :
- Này tớ trông thấy một quả bí to bằng cái miếu này.
Anh kia lắc đầu :
- Thế đã thấm vào đâu ! Tớ còn trông thấy một cái xanh to bằng cái đình làng.
Anh kia ngạc nhiên hỏi :
- Thế cái xanh to như thế dùng để làm gì ?
- Cậu không biết à, để luộc quả bí của cậu đấy mà ! Nói láo như bò
Anh chủ nhà kia hay nói láo, có thằng đày tớ lanh nói đỡ cho ảnh hoài, Bữa kia ảnh nói vớingười ta rằng : "Tôi bị trận dông lớn quá chừng, đến đỗi cái giếng nó bay cho tới đàng xóm !". Họ nói không có lẽ.
Thằng đày tớ cắt nghĩa rằng : "Sựđó là thiệt, bởi cái giếng của chủ tôi có rào chặn một hàng sơ li, hôm đó trận dông nó trốc hàng sơ li quan bên này, nên coi như hình cái giếng bay qua bển".
Bữa kia anh ta uống rượu say, khoe tài với sanh em bạn rằng :"Tôi vào trai gái với con vợ thằng khác ấy, rủi nó về, cỏn sợ đem giấu tôi trong thùng ngang; thẳng dở ra, thì thùng không, tôi đã độn về mất".
Thằng đày tớ nói rằng :"Sự đó là thiệt, hôm đó tôi có đi theo, thấy thím kia biểu chủ tôi ngồi, lấy thùng úp lại, tôi ngồi ngoài, gần bên lỗ chó, tôi kêu nhỏ, chủ tôi nghe, mang thùng lại dựa vách, chum lỗ chó mà ra.
Thằng khác cầm đèn lại dở ra thì thấy thùng trống".
Anh ta ỷ có đày tớ nói đỡ cho, ăn quen cứ nói láo hoài.
Bữa kia người ta đập được một con chuột cống, lớn bằng con heo con, ai nấy làm lạ xúm lại coi, anh ta lại nói rằng : "Chuột bây lớn mà mấy người lấy làm lạ, bữa hôm tôi đập được con chuột lớn bằng con bò".
Họ nói :"Cái đó mới là láo to đa !"
Anh ta biểu hỏi thằng đày tớ coi.
Thẳng nói rằng : "Láo bực nào tôicòn đỡ đặng, trừ ra có cái láo như bò, tôi đỡ không nổi". Thi nói khoác
Một hôm được nghỉ, bốn quan họp nhau đánh chén, nhân lúc cao hứng liền mở một cuộc thi nói khoác.
Quan thứ nhất nói :
Ä Tôi còn nhớ, ngày tôi trọng nhậm ở huyện nọ, tôi được trôngthấy một con trâu to lắm, nó liếm một cái mất cả một sào mạ !
Quan thứ hai nói :
- Thế đã lấy gì làm lạ. Tôi còn trông thấy một sợi giây thừng to gấp mười cái cột đình làng này !
Quan thứ nhất biết ông kia nói lỡm mình, bèn chịu thua, và giục quan thứ ba lên tiếng.
Quan thứ ba nói :
Ä Tôi đã từng thấy một chiếc cầu dài lắm, đứng đầu này không thể nào trông thấy đầu kia. Chỉ biết rằng hai bố con nhà nọ, kẻ ở bờ bên này, người ở bờ bên kia, mà chẳng bao giờ gặp nhau được. Lúc ông bố chết, người con nghe tin, vội vã sang đưa đám ma, nhưng khi đi qua cầu sang đến nơi thì đã đoạn tang được ba năm rồi.
Ðến lượt quan thứ tư :
Ä Thế kể cũng ghê đầy. Nhưng tôilại còn trông thấy một cây cao khiếp lắm ! Cứ biết rằng trứng chim ở ngọn cây rơi xuống mới đến nửa chừng, chim đã nở đủ lông đủ cánh và đã bay đi rồi.
Quan thứ ba hiểu ý, cây ấy dùng để làm cái cầu mình nói, đành chịu thua.
Bốn ông quan đắc chí, vỗ đùi cười ha hả.
Bỗng có tiếng thét thật to làm cácquan giật bắn người :
Ä Ðồ nói láo cả ! Lính đâu ? Trói cổ chúng nó lại cho ta !
Các quan sợ run cầm cập, ngơ ngác nhìn trước nhìn sau xem ai, thì té ra là tên lính hầu. Lúc ấy, các quan mới lên giọng :
Ä Thằng kia, mày định trói ai thế?
Ä Bẩm quan, con thấy các quan thi nhau nói khoác thì con cũng nói khoác chơi đấy ạ ! Chã giấu gì bác
Có một ông lâu ngày đến nhà ông bạn thân chơi. Khách chủ gặp nhau chuyện trò rôm rả.
Chủ kiếm trầu mời khách nhưng giữa cơi trầu chỏ có một một miếng.
Chủ khẩn khoản mời mãi, khách đành phải ăn.
Cách một thời gian sau, ông này nhớ bạn lại đánh đường sang thăm trả.
Thấy vạn đến, ông kia mừng lắm, mời lên nhà trên ngồi. Chuyện tròlại rôm rả.
Ông này cũng bày ra giữa cơi chỉ có mỗi một miếng miếng trầu và khẩn khoản mời.
Ông khách khen cái cơi đẹp và nểlời cầm miếng trầu lên tay ngắm nghía:
- Thứ cau của nhà bác chắc bổ vào dịp mưa nên nó lắm xơ nhỉ?
- Không đâu ạ, đó chính là miếng trầu mác mời tôi dạo nọ đấy ạ. Tôi ngậm nó nên nó hơi bị dập ra. Thà chết còn hơn
Xưa có anh keo kiệt, ăn chẳng dám ăn, mặc chẳng dám mặc, khi khư khư tích của làm giàu.
Một hôm, có người bạn rủ ra tỉnhchơi. Trước anh ta còn từ chối, sau người bạn nài mãi, anh ra mới vào buồng lấy ba quan tiền giắt lưng rồi cùng đi.
Khi ra đến tỉnh, trông thấy cái gì anh ta cũng muốn mua, nhưng sợ mất tiền lại thôi. Trời nắng quá, muốn vào hàng uống nước lại sợ phải thết bạn, không dám vào.
Ðến chiều trở về, khi anh qua đò đi đến giữa sông, anh keo kiệt khát nước quá, mới cúi xuống uống nước, chẳng may lộn cổ xuống sông.
Anh bạn trên thuyền kêu:
- Ai cứu xin thưởng năm quan.
Anh keo kiệt ở giữa dòng sông, nghe tiếng cố ngoi đầu lên, nói:
- Năm quan đắt quá!
Anh bạn chữa lại:
- Ba quan vậy.
Anh hà tiện lại ngoi đầu lên lần nữa!
- Ba quan vẫn đắt, thà chết còn hơn! Thế vẫn còn hoang
Một anh có đôi giày. Khi có việc cần đi ra ngoài đường, anh ta ôm giày theo. Hễ gặp ai đi qua, anh ta mới xỏ chân vào giày.Một người đi đường
thấy thế bảo:
- Thế vẫn còn hoang phí!
- Phải làm như thế nào mới đỡ hoang phí? - Anh ta hỏi lại.
- Làm như tôi có cái quạt đây này.Mỗi khi nóng nực, tôi xoè ra và chỉ giơ lên, còn cứ lúc lắc đầu chomát. Uống rược mà chết hót
Có một anh tính khí rất keo kiệt. Hễ nhà có giỗ, thì cứ đem những chén "hạt mít" ra để mời khách uống rượu.
Một khi, có bạn ở xa đến chơi, anh ta phải thết cơm rượu, cứ lối cũ giở ra.
Người khách biết ý, đương ngồi uống rượu, tự nhiên khóc hu hu lên. Anh kia ngạc nhiên hỏi làm sao đương vui lại khóc?
Người khách gạt nước mắt, đáp rằng:
- Tôi uống rượu, nhìn thấy chén, thì lại sực nhớ đến người anh embạn thân của tôi, ngày xưa vì uống bằng chén con như thế nầy,mà phải chết oan.
- Làm sao thế?
- Tại chén nhỏ quá, vô ý nuốt cả chén, cho nên chết hóc.
Anh chủ nhà vội vàng thay ngay chén con, mà lấy chén to đem ra.Quả trầu không
Có bốn anh thợ cưa xẻ gỗ cho một ông nhà giàu dưới vườncây vào tiết tháng năm. Mít vừa độ chín, mùi hương thơm toả khắp khiến bốn anh thợ cưa thèm rỏ dãi. Chủ nhà lại là một lãohà tiện và keo kiệt, trưa nào cũngra rình và đếm lại những quả mít đã chín. Bốn anh thợ cưa vừa thèm vừa ghét lão chủ, tìm cách lấy mít ăn cho bõ thèm.
Có một rựt hai quả nơi cây mít có bụi trầu không leo quanh và bảo cả bọn cùng ăn rồi sẽ có cách xử trí.
Trưa, lão chủ ra đếm mít, thấy mất hai quả bèn nổi giận, định đến bắt đền bốn anh thợ cưa. Lão vừa đến thì anh rựt mít nói ngay:
- Ðó, nhờ ông ra phân xử cho xem ai đúng ai sai.
- Ðúng sai thế nào không biết chứ các anh phải trả tiền hai quả mít ở cây kia cho tôi.
- Chính hai quả ấy đó ạ. Tôi thì bảo là quả mít, còn bọn kia thì lại nhất định là quả trầu không. Chúng cãi với tôi đã ngót mười hôm nay. Ðến lúc, hạ xuống ăn thì rõ rằng là quả mít, đúng như tôi nói. ấy thế mà chúng nó vẫn gân cổ lên cãi. Chúng bảo rằng quả trầu không cũng thơm và ngọt như quả mít. Bây giờ, may nhờ có ông ra, nhờ ông nói cho một lời.
- Một lời làm sao?
- Dạ, là quả mít hay quả trầu không ạ.
Ông chủ keo kiệt lặng thinh đi vào. Quả trầu không
Có bốn anh thợ cưa xẻ gỗ cho một ông nhà giàu dưới vườncây vào tiết tháng năm. Mít vừa độ chín, mùi hương thơm toả khắp khiến bốn anh thợ cưa thèm rỏ dãi. Chủ nhà lại là một lãohà tiện và keo kiệt, trưa nào cũngra rình và đếm lại những quả mít đã chín. Bốn anh thợ cưa vừa thèm vừa ghét lão chủ, tìm cách lấy mít ăn cho bõ thèm.
Có một rựt hai quả nơi cây mít có bụi trầu không leo quanh và bảo cả bọn cùng ăn rồi sẽ có cách xử trí.
Trưa, lão chủ ra đếm mít, thấy mất hai quả bèn nổi giận, định đến bắt đền bốn anh thợ cưa. Lão vừa đến thì anh rựt mít nói ngay:
- Ðó, nhờ ông ra phân xử cho xem ai đúng ai sai.
- Ðúng sai thế nào không biết chứ các anh phải trả tiền hai quả mít ở cây kia cho tôi.
- Chính hai quả ấy đó ạ. Tôi thì bảo là quả mít, còn bọn kia thì lại nhất định là quả trầu không. Chúng cãi với tôi đã ngót mười hôm nay. Ðến lúc, hạ xuống ăn thì rõ rằng là quả mít, đúng như tôi nói. ấy thế mà chúng nó vẫn gân cổ lên cãi. Chúng bảo rằng quả trầu không cũng thơm và ngọt như quả mít. Bây giờ, may nhờ có ông ra, nhờ ông nói cho một lời.
- Một lời làm sao?
- Dạ, là quả mít hay quả trầu không ạ.
Ông chủ keo kiệt lặng thinh đi vào. Không phải mất công
Có một thằng lười quá, ngày đêm chỉ nằm yên một chỗ, có hai bữa cơm, mà cũng không muốn há mồm ăn đến nỗi chết đói. Lúc xuống âm phủ, Diêm Vương bắt phải đầu thai kiếp mèo. Thằng lười bèn tâu rằng:
- Muôn tâu Ðại vương đầy tôi phải làm mèo, thì tôi xin cho được lông đen tuyền, chỉ có cái mũi là đốm trắng thôi.
Diêm Vương hỏi:
- Ðể làm gì?
Nó tâu:
- Ðể tôi lại nằm trong xó tối. Chuột trông thấy cái đốm trắng, ngỡ là miếng mỡ lợn lại gặm. Tôi chỉ việc há mồm ra ăn thịt, khôngphải mất công rình bắt gì nữa... Chờ sung rụng
Một thằng lười, lười quá không muốn làm gì cả, cứ nằm ngửa dưới góc cây sung, há mồmchờ cho sung rụng vào thì nuốt. Nhưng đợi mãi, bao nhiêu sung đều rơi chệch ra ngoài, chẳng quả nào vào mồm cho. Chợt có người đi qua, nó gọi lại bảo nhặt sung bỏ vào mồm hộ. Không maylại gặp một thằng cũng lười, nó lấy hai ngón chân cặp quả sung, bỏ vào mồm cho thằng kia. Thằng kia gắt lên:
- Khốn nạn! Lười đâu mà lười thế!Con nói hợp với ý ta
Có một lão nhà giàu hà tiện, lúc lâm chung gọi ba đứa con vào hỏi:
- Cha chết thì các con tính chôn cất ra sao, cho khỏi tốn kém?
Con thứ ba nói:
- Con mua một cái chiếu rách, bó xác cha lại, chúng con lôi đi, ném xuống huyệt.
- Vẫn tốn kém.
Con thứ hai nói:
- Con ném cha xuống sông cho cáăn.
- Không được! Thịt cha, cá ăn phí quá!
Người con cả nói:
- Con chất củi, đốt xác cha để lấy cho bón ruộng nhà ta.
Người cha gật đầu:
- Con nói hợp ý ta. Như vậy là không mất cái gì mà có lợi. Con nói hợp với ý ta
Có một lão nhà giàu hà tiện, lúc lâm chung gọi ba đứa con vào hỏi:
- Cha chết thì các con tính chôn cất ra sao, cho khỏi tốn kém?
Con thứ ba nói:
- Con mua một cái chiếu rách, bó xác cha lại, chúng con lôi đi, ném xuống huyệt.
- Vẫn tốn kém.
Con thứ hai nói:
- Con ném cha xuống sông cho cáăn.
- Không được! Thịt cha, cá ăn phí quá!
Người con cả nói:
- Con chất củi, đốt xác cha để lấy cho bón ruộng nhà ta.
Người cha gật đầu:
- Con nói hợp ý ta. Như vậy là không mất cái gì mà có lợi. Nhà giàu keo bẩn
Một anh nhà giàu keo bẩn, không hề thết khách bao giờ. Một hôm, có kẻ thấy người ở nhà anh ta đem rổ bát ra cầu ao rửa, mới hỏi đùa:
- Nhà hôm nay mời khách đấy à?
Người ở nói:
- Ôi chà! Ông chủ tôi mà mời khách, thì có hoạ đến ngày chết!
Anh ta đi qua đấy, nghe thấy người ở nói vậy liền dừng lại mắng:
- Mày biết khi tao chết có mời ai hay không mà mày dám hẹn trước như thế? May không đi giầy
Có ông tính hà tiện, một hôm đi chân không ra chợ. Giữa đường vấp phải hòn đá, ngón chân chảy máu ròng ròng, thế màông ta không phàn nàn gì lại còn nói:
- May cho mình thật!
Có người qua đường lấy làm lạ, hỏi:
- Ông vấp toạc chân máu chảy ra thế, mà còn bảo may là thế nào?
- Anh không rõ. May là vì tôi không đi giày, chớ mà đi giày thì rách mất mũi giày rồi còn gì! Chồng keo vợ kiệt
Có một anh chồng rất keo kiệt. Một hôm đi làm được nửa đường anh sực nhớ chưa tắt chiếc đèn dầu ở nhà. Sợ vợ quên, anh lập tức quay về. Ðến nhà anh không dám vào, vì sợ mở cửa, cửa sẽ chóng hỏng. Anh đứng ngoài dặn vợ tắt đèn. Bà vợ nghe thấy tiếng chồng bèn trách: "Ði được nửa đường rồi mà còn quay về làm gì thêm mòn giày!". Anh chồng liền nói ngay:
- Không lo, tôi toàn xách giày thôi, chỉ đi đất về dặn mình tắt đèn đấy!.Cho đỡ hỏng vải
Có anh hà tiện mời bạn ăncơm. Cơm đã chẳng có gì, đến bátđãu cũng không.
Chủ nhà bảo:
- Thôi ăn bốc cũng tốt chán!
Ðang ăn, bỗng gió thổi tắt đèn. Anh ta gọi con thắp đèn, khách bảo:
- Thôi, đèn đóm làm gì cho phí dầu, món ăn độc vị bốc nhầm đâu mà sợ.
Bỗng có tiếng sột soạt, chủ hỏi:
- Bạn làm cái gì thế?
- Trời tối như bưng, chẳng ai thấygì, tôi cởi quần ra cho đỡ hỏng vải -
Khách đáp. Cho đỡ hỏng vải
Có anh hà tiện mời bạn ăncơm. Cơm đã chẳng có gì, đến bátđãu cũng không.
Chủ nhà bảo:
- Thôi ăn bốc cũng tốt chán!
Ðang ăn, bỗng gió thổi tắt đèn. Anh ta gọi con thắp đèn, khách bảo:
- Thôi, đèn đóm làm gì cho phí dầu, món ăn độc vị bốc nhầm đâu mà sợ.
Bỗng có tiếng sột soạt, chủ hỏi:
- Bạn làm cái gì thế?
- Trời tối như bưng, chẳng ai thấygì, tôi cởi quần ra cho đỡ hỏng vải -
Khách đáp. Kiếm được huyệt tốt
Có thầy địa lí nhỏ mới cưới vợ, tối ngủ với vợ, rờ cái mũi, nói rằng:
"Ðây thiệt phất long chi sơ", rờ hai cái vú, nói rằng: "Mừng đặng long hổ cụ toàn"; Rờ lần xuống nói rằng: "ừ, đây là kim tỉnh tốt dữ, có huyệt rồi".
Chừng leo lên, vợ hỏi: "Làm gì vậy?".
Thầy rằng: "Tao coi đặng huyệt rồi, để lo ban lên đặng mà tác thi khẩu".
Người cha nằm cách vách nghe, mừng cười lơn lên mà rằng: "Con đã kiếm đặng huyệt tốt, làm sao con cũng để dành đến sau con chôn cha vào đó nghe con!". Mẹo thầy cúng
hai vợ chồng nhà nọ chỉ sinh được một con trai, nên rất thương yêu chiều chuộng.
Một hôm chẳng may nó bịốm. Hai vợ chồng hoảng lên, vợ giục chồng đi mời thầy cúng. Thầy cùng đến, bắt bà mẹ phải nấu một nồi cơm nếp thật to. Cơm chín, thầy vắt hình một trăm con mèo. Còn nắm cháy, thầy vắt riêng một con, gọi là mèo ác.
Thừa lúc, người chồng đi chợ sắm sanh đồ lễ, thầy bảo bà mẹ bỏ con vào cối giã gạo, còn bà phải đứng giữ lấy cần cối. Thầy bày "mèo" lên bàn thờ để cúng, không cần chờ người chồng đemđồ lễ về. Cheng cóc cúng vái một hồi, thầy đem đãy ra, tay vơ từng con "mèo" bỏ đãy, miệng nói:
Một con mèo xeo vào đãy!
hai con mèo xeo vào đãy!
Ba con mèo xeo vào đãy!
...
Trăm con mèo xeo vào đãy!
Còn con "mèo ác" thầy uống nác (nước) thầy đi.
Thế là thầy xách cả đãy xéo luôn. Người mẹ đứng trên chày không biết làm thế nào được, thả chày ra thì chày dáng vào đầu con. Bà đành phải trơ mắt nhìn thầy đi vàđứng đợi cho đến lúc chồng về. Mất tiền, mất công mà con vẫn không lành. Kinh nghiệm làm thầy lang
Có anh nọ theo thầy lang học nghề. Hôm đến xem mạch cho người bệnh nhà nọ,thầy bảo:
- ¡n cam rồi phải không?
- Dạ thưa, vừa cho ăn vài múi thôiạ!
- Vậy khó chữa lắm!
Cố nhiên là với lòng khâm phục và những lời khẩn khoản của gia chủ, thầy cũng kê đơn, cho vị.
Về nhà, trò càng khâm phục thầy nhiều hơn, hỏi:
- Dạ, thưa thầy xem mạch mà biếtbệnh nhân có ăn cam ạ?
- Có khó gì đâu, tao thấy đầu giường nó có vỏ cam. Coi như học đã thành nghề, trò xin phép thầy ra về đẻ chữa bệnh cho thiên
hạ. Một nhà có người ốm đến mời. Anh ta vênh vang vác mặt ra đi. Cầm tay bệnh nhân bắt mạch hồi lâu, anh ta phán:
- Mới cho ăn thịt gà có phải không?
- Dạ thưa, không ạ!
- Không à! Sao lại có chổi lông gà để ở đây? Xin mời thầy nội khoa
Xưa có một người tập bắn, nhỡ tay bắn phải đùi, mời thầy ngoại khao đến chữa. Thầy lấy dao cứa bỏ phần mũi tên ở ngời da, làm xong, đi về.
Người nhà hỏi:
- Ngoài da bây giờ phẳng rồi, nhưng còn cái phần mũi tên cắm sâu vào thịt thì làm thế nào?
Thầy nói:
- Cái ấy tôi chịu, xin mời thầy nội khoa! Học lội
Tên thầy thuốc kia tới làm thuốc rủi chết người ta, chủ nhà giận bắt trói bỏ dưới nhà dưới. Khuya lại thầy lén lút mở trói lội sông trốn về, mình mẩy ướt hết. Bước vào nhà thấy con đương học mạch, nói với conrằng:
"Con có học mạch thì phải học lội với con nghe!". Thuốc mắc cổ
Người nhà giàu kia ngậm đồng bạc chơi, rủi quên nuốt mắc ngang cổ, chạy rước thầy tớicho thuốc.
Thầy rằng: "Có khó gì, mua một bộ bài cào về đốt đi, hoà với nước uống, còn ngoài thì lấy lá thuốc cứu đốt rồi nó ra".
Chủ nhà hỏi: "Sao vậy?"
Thầy rằng: "dễ hiểu quá: trong bị ăn cướp đánh ra, ngoài lửa chấy vô, tự nhiên bach nó phải lòi ra chứa sao!". Chọn người gầy mà chữa
Một thầy lang cho người bệnh uống thuốc thế nào đến nỗi người bệnh chết. Nhà chủ doạ đem lên quan kiện. Thầy lạy lục, kêu van. Nhà chủ bắt phải khiêngquan tài đi chôn mới tha. Thầy lang đành phải về nhà, gọi vợ và hai con, bốn người cùng đi khiêng. Người chết béo, quan tài nặng, cả nhà khiêng méo cả mặt.
Ði đến giữa đường, thầy than thở:
- Làm người chớ có học nghề thuốc!
Người vợ nói thêm:
- Làm thuốc khổ đến vợ con.
Con thứ ngậm ngùi:
- Ðầu nặng, chân nhẹ, khiêng không nổi.
- Con trưởng ôn tồn khuyên bố:
- Từ nay, có chữ thì nên chọn người gầy gầy. Chữa ma ra người
Một thầy lang dốt nằm mơ thấy mình xuống âm phủ, có một lũ mặt võ mình gầy, níu chặt lấy bảo:
- Trước thầy đã chữa cho chúng tôi xuống đây, bây giờ thầy phải làm thế nào chữa cho chúng tôi lên được thì chữa?
Thầy lang sợ cuống, giật mình tỉnh dậy, vuốt ngực than rằng:
- Ta chỉ có cách chữa cho người hoá ra ma, chứ bây giờ lại bắt ta chữa cho ma hoá ra người thì ta biết dùng phương thuốc gì được? Lây ngày
Một ả vừa mới ở cữ, ra vườn đi tiểu, nhìn xuống "cái kia" của mình, buột miệng nói:
- Chà, lâu ngày, hôm nay mới thấy,xem cũng không khác trước mấy.
Một anh thầy bói đi qua, tưởng người ta chào mình, cung kính đáp lại:
- Dạ ! Tôi đi làm mãi dưới huyện, mới về hôm nay, nhờ trời cũng mạnh khoẻ. Tra chuôi vào
Một ông thầy cúng đến cúng cho nhà chủ tên là: Nguyễn Văn Tròn. Thầy dốt không biết viết chữ "Tròn" thế nào, đành khuyên một cái vòng tròn. Có người nghịch lấy bút sổ một nét vào vòng trong. Ðến khi thầy đọc sớ, trông thấy như cái gáo, cứ"Nguyễn Văn Gáo" đọc mãi.
Chủ nhà bảo:
- Không phải, tên tôi là Nguyễn Văn Tròn kia mà!
Thầy cúng ngượng, gắt:
- Thế thì đứa nào mới tra cái chuôi vào đây? Chỉ có một con ma
Con Diêm Vương ốm, DiêmVương sai quỷ sứ lên trần đón thầy lang xuống chữa. Khi tên quỷ sứ đi. Diêm Vương dặn :
- Tìm nhà thầy lang nào có ít ma đứng ở cửa nhất thì hãy vào. Lên đến trần, tên quỷ sứ đi khắp nơi, không tìm được thầy lang nào như thế cả. Nhà thầy nào xoàng ra cũng ba bốn chục con ma đứng ở cửa. Ðang định quay về thì bỗng thấy nhà của một thầy lang nọ chỉ có con ma. Mừng quá,tên quỷ sứ bắt thầy lang đó xuống âm phủ. Xuống đến nơi, liền dẫn thầy vào yết kiến Diêm Vương.
Diêm Vương đón được thầy giỏi mừng lắm, phán hỏi :
- Nhà ngươi làm thuốc đã bao năm nay mà khá như vậy?
Thầy lang thưa:
- Thưa, tôi mói làm nghề này được mấy hôm nay, và cũng chỉ mới chữa cho một người thôi ạ! Thuốc ngứa
Có thầy kia treo bảng bán thuốc ngứa. Có tên nọ vào mua, rồi hỏi phải làm sao?
Thầy rằng: "Có khó gì, bắt lấy con ngứa rồi vạch miệng nhétthuốc vào thì nó chết". Hỏi khách qua đường
Một ông thầy bói đi lạc đường, hỏi thăm khách qua đường.
Người ấy bảo :
- Thầy đi bói thì phải biết đường chứ? Thế lúc đi thầy không bói à?
Ông thầy bói đáp :
- Tôi đã bói rồi! Trong quẻ dạy: cứ hỏi khách qua đường thì biết! Tại thầy địa lí...
Một thầy địa lí, một thầy phù thuỷ, một thầy bói ế hàng, ba thầy rủ nhau đi phương khác kiếm ăn. Ði từ sángđến tối, bụng đói meo mà ba thầycũng chưa tìm được chỗ nghỉ chân. Thầy địa lí sực nhớ ra gần đấy có nhà quen, mới bảo hai thầy kia:
- Ngày trước tôi có để giúp ngôi đất cho một nhà trong làng này. Nhà nó bây giờ cũng khá. Anh emta gắng mà đến đấy, thế nào cũng được bữa no say.
Nhưng tôi cũng dặn trước, hễn đén đấy người ta có mời ăn thì phải làm cao mới được, chứ đừng để người ta biết mình đói, người ta khinh.
Ba thầy tìm đến. Chủ nhà, gặp lại tầy cũ, tiếp rước niềm nở, bảo người nhà làm cơm thết đãi. Ba thầy cứ từ chối. Chủ nhà mời mãi, các thầy bảo:
- Thôi xin bác cho bận khác. Chúng tôi đã cơm rượu ngoài hàng rồi, chỉ phiền ông cho ngủ nhờ một tối, sáng mai anh em xinđi sớm.
Chủ nhà tưởng các thầy thật tình, mới bảo người nhà thôi đừng dọn cơm nữa, quét giường trải chiếu mời các thầy đi ngủ.
Ba thầy thấy vậy buồn lắm, nhưngchẳng lẽ lại thú thực, đành bóp bụng đi ngủ. Nằm mãi chẳng ngủđược. hai thầy kia mới cằn nhằn với thầy địa lí:
- Ðầu đuôi chỉ tại anh cả. Việc gì xui nhau làm khách để đến nỗi bây giờ không ngủ được!
Thầy địa lí tuy bụng cũng hối, nhưng đã bày chuyện ra rồi đànhchịu, thấy hai thầy kia cứ nói lôi thôi sợ người nhà nghe tiếng, mới bảo:
- Thôi các ông cứ nằm im, để chốc nữa nhà nó ngủ yên, tôi xuống bếp lục xem có gì ăn được, tôi mang ra cùng ăn cho đỡ đói.
Anh thầy bói vốn háu ăn, nghe nói thế, bụng bảo dạ: "Hắn đi thì có hắn trước đã, chứ đâu đến phần mình".
Thầy vội vàng lẻn xuống đất, rón rén mò đường vào bếp. Chẳng may cho thầy, loạng choạng giẫmngay phải cái lưỡi cuốc dựng ở xó nhà, cán cuốc đập đánh "độp" một cái vào đầu. Tưởng người nhà rình, biết, nó đánh, thầy luống cuống kêu inh lên:
- ối giờ ơi! Tôi lạy ông, ông tha cho. Chuyện này chỉ tại anh thầy địa lí!... Giấu đầu hở đuôi
Một ông sư hổ mang, sai tiểu đi mua thịt cầy về nhắm rượu, dặn có ai hỏi thì không được nói. Chú tiểu mua gói thịt cầy về tới cổng, chẳng may gặp phải một vị khách vãn chùa. Khách hỏi:
- Chú có gòi gì thế?
Chú tiểu sực nhớ lời sư dặn, bèn nói:
- Tôi đố ông biết đấy! Ông mà đoán đúng tôi xin thưởng ông gói thịt cầy
này!... Đi tu mà chẳng trọn đời
Có một vị sư nổi tiếng chân tu, lại học rộng. Một hôm, Phật báo mộng cho sư biết rằng sư sẽ đắc đạo, sau khi dự một cuộc thi ở Thiên đình. Tỉnh dậy, sư rất mừng, từ đó ngày đêm chăm chỉ ôn luyện kinhkệ và tập ấn quyết thật tinh thục. Mọi việc đều thành thạo nhưng nhà sư chợt nghĩ: Mình lục trí thần thông đều đủ cả, duy chỉ có một việc chưa từng biết là cơ thể đàn bà. Nếu lên thiên đình, hỏi đến cái mục ấy thì biết đường nào mà trả lời.
Nhà sư khẩn khoản nhờ bác giữ chùa giúp đỡ mình. Bác giữ chùa đi từ đầu làng đến cuối chợ, chả tìm được ai cả, đành về nhà dỗ vợ, ngọt nhạt mãi chị vợ mới nhận lời.
Tìm hiểu được cơ thể đàn bà rồi nhà sư rất thoả mãn. Nhưng từ đó, sư đâm ngơ ngẩn, kinh kệ và cúng giàng chả thiết gìnữa, ấn quyết cũng mất linh nghiệm. Phật biết mọi chuyện nổigiận, cho Thiên lôi đánh chết và bắt sư hoá ra con ếch. Vì thế, mớicó câu ca dao:
Ði tu mà chẳng trọn đời,
Sinh ra con ếch, cho người lột da. Sát sinh, tội nặng lắm đấy
Một người đánh cá đem cávào chợ bán. Có nhà sư trông thấy, bảo:
- Ngày nào ngươi cũng sát sinh, tội nặng lắm! Ðể nhà chùa làm lễ sám hối cho, có bằng lòng không?
Người đánh cá hỏi:
- Sám hối thì phải thế nào?
Sư bảo:
- Bán rẻ cá cho nhà chùa để nhà chùa phóng sinh, thả xuống ao.
Người đánh cá nói:
- Vâng! Nhưng xin nhà chùa cho mỗi con năm tiền, chứ kém không được.
Sư nói:
- Nam mô phật! Sao đắt thế! Xưa nay nhà chùa vẫn mua cá rán ở hàng cơm cũng chỉ có ba tiền một con, nữa là cá chưa rán. Đậu phụ cắn
Sư cụ xơi thịt cầy vụng ở trong phòng. Chú tiểu biết, hỏi:
- Bạch cụ, cụ xơi gì trong ấy ạ?
Sư cụ đáp:
- Tao ăn đậu phụ.
Lúc ấy, có tiếng chó sủa ầm ĩ ngoài cổng chùa.
Sư cụ hỏi:
- Cái gì ngoài cổng thế?
Chú tiểu đáp:
- Bạch cụ! Ðậu phụ làng cắn đậu phụ chùa đấy ạ! Ai sợ vợ nhất?
Sư cụ ngồi đàm đạo với mấy người khách, có người hỏi:
- Trong đám ta đây, ai là người sợvợ nhất nào?
Chưa ai đáp thì sư cụ đã nhận ngay.
- Kể sợ thì tôi đây sợ nhất.
Mọi người lấy làm lạ hỏi:
- Sư cụ có vợ đâu mà sợ?
- Tôi sợ đến nỗi không dám lấy vợ nữa! Chết vẫn lừa bịp
Một người chỉ đi khuyến giáo giả, nói những là tô tượng đúc chuông, làm cầu, làm quán, nhưng kì thực được đồng nào, lẻm vào mồm hết. Lúc chết xuốngâm ti, vua Minh vương giận lắm, bắt đem đày ngục tối. Anh ta vừa bước vào cửa ngục, đã bảo những người bị giam trong ngục:
- Các bác ở đây, tối thế nàycũng chịu được à? Ðể tôi đi khuyến giáo, mỗi bác cúng cho ít nhiều, tôi sẽ thuê người mở một cái cửa sổ thật to thông lên trời cho nó sáng ra chứ!... Cha cố và sư ông thi tài
Một ông cha thấy sư đang đăng đàn làm lễ, muốn xỏ ông sư, đọc luôn một vế câu đối:
Sư ông đăng đàn, vãi ra kia, tiểu ra đấy.
Vãi vừa có ý bà vãi, vừa có ý đại tiện, tiểu vừa có ý chú tiểu, vừa cóý tiểu tiện.
Nhà sư cũng không vừa, chờ hôm chủ nhật thấy cha đang rửa tội mới vào nhà thờ đối lại:
Cố cha rửa tội, tra đằng trước, sờ đằng sau.
Câu đối lại cũng tài tình! Cha có hai ý : ông cha, và "tra" vào, sờ cũng có hai ý : bà sơ (soeur) và sờ mó.
Cách chơi chữ của cả hai người đều hiểm cả. Cái gì không xài nó dài ra
Một vị tu sĩ ngồi chờ tại phòng hớt tóc. Bởi ông tới trước,nên khách kia vừa xuống thì đến phiên ông lên nghế ngồi. Anh thợhớt tóc vừa giũ khăn định choàng, bỗng vị tu sĩ nói một câumở đề, để cho thấy mình là tay cótrí: "Nè anh thợ! Có phải là cái gì mình không xài thì nó mọc dài rahoài, phải không hử?" ý ông muốn ám chỉ tóc râu vô dụng mà vẫn mọc.
Nhưng anh thợ lại nghĩ khác, nên một tay cầm khăn quêngiũ, một tay ôm bụng cười dài, cười ngoặt ngoẹo đến bủn rủn tay chân không làm gì được.
Vị tu sĩ phát cáu:
- Tôi nói có gì lạ mà anh cười dữ vậy. Hớt đi chứ!
- Thưa thầy tha lỗi - anh thợ thưa - nghe thầy nói, con bỗng nhớ thầy là người tu hành, không xài, ắt nó dài lắm!
Vị tu sĩ biết lỡ lời, đỏ mặt, nói để che sượng: "ý cài anh nầy, khéo nghĩ tầm bậy tầm bạ không lo mần việc. Ai nói vậy! Hớt lẹ đi không?". Tứ suất bắt phụ nữ tu
Tú Suất là người lanh lợi, nói xuôi cũng được, nói ngược cũng xong. Khi ấy có nhà nữ tu có tiếng; trong ấy có một người con gái lịch sự, xinh đẹp, người ta ai ai cũng biết. Anh em bạn biết ve nàng ấy thì khó lắm, không ai ve được; bữa ấy mới đó Tú Suất lầm lầm sao mà nhận mà bắt nàng ấy ra cho được. Tú Suất chịu. Vậy mới tập trẻ hầu hạ, đứa kêu bằng chú, đứa kêu bằng bác, đứa kêu bằng cậu, đứa kêu bằng dượng, sắp đặt tử tế. Tú Suất mớiviết thơ cho người đem vào thưa với bà sư cô coi nhà như tu
ấy, mà xin bà ấy cho vợ mình lại, rằng nàng ấy tên là ấy, thật là vợ mình, vì giận hờn nhau mà bỏ màlánh mình đi tu thôi. Nhứt diện xin với bà sư cô, nhứt diện đi thưa với làng sở tại. Làng đòi bà sư cô biểu đem nàng ấy ra đình làng mà tra hỏi cho ra việc.
ở trong chùa kéo nhau ra nhà làng các đứa hầu Tú Suất chạy theo : đứa kêu bác, đứa kêu thím,đứa kêu mợ, đứa kêu dì mà khóc cùng đường rằng : Sao cô bỏ... (chú, bác, cậu, dượng) mà đi tu cho đành! Làng hỏi, nàng thưa một hai không có chồng, không biết người trai ấy là ai bao giờ... Làng bắt lí rằng: Sao trẻ năm bảy đứa em cháu nó khóc nó kêu nó nhìn mình.
.. Sao nó không nhìn các cô khác?Nên làng dạy bà sư cô giao lại cho Tú Suất đem vợ về.
Nàng ấy giãy giụa khóc la mà phải vâng phép làng mà về theo Tú Suất, không chối cãi gì được. Giả ơn con lợn
Có hai anh kết nghĩa đen sách. Một anh gặp may thi đỗ, ra làm quan, liền trở mặt. Bạn đến thăm nhiều lần, lần nào cũng cho lính ra bảo, khi thì ngài giấc, ngài ngơi, khi thì ngài bận việc công không tiếp.Năm bảy phen nhứ thế, anh này giận lắm.
Một hôm, anh ta mua một con lợn, quay vàng, để lên mâm bưng tới. Lính lệ vào bẩm, một láttrở ra, niềm nở mời vào. Vào đến nơi, quan chào hỏi cồn vã rồi sai lính lệ mang trầu ra mời. Anh ta cầm lấy miếng trầu, đút vào miệng con lợn, vái nó mấy vái mà rằng.
- Tao giả ơn mày! Nhờ mày tao mới lại lọt vào đến cửa quan để nhìn lại mặt ban cũ! Trung thần nghĩa sĩ cả
Nhà vua vi hành, gặp một ông lão đang cày ngoài đồng. Nhà vua dừng lại hỏi thăm về ruộng nương, lúa má, rồi lân la hỏi đến chính sự, tư cách quan trong địa hạt thế nào.
Ông lão nói:
- ối chà! Các quan ở đây đều là những bậc trung thần nghĩa sĩ cả.
Nhà vua hỏi:
- Làm sao mà lão biết?
Ông lão đáp:
- Tôi xem hát xưa nay, thấy những vai nịnh như Ðổng Trác, Tào Tháo đều mặt trắng mà các quan ở đây tôi chưa thấy ông nào mặt trắng như thế bao giờ! Ông nào mặt mũi cũng hồng hào béo tốt cả! Bẩm chó cả
Nhà nho nọ thấy quan lại tham nhũng trong lòng rất khinh.Một hôm, các
quan đến nhà chơi, trong số đó có cả mấy bạn đồng song thủơ trước. Ông ta
bảo người nhà dọn rượu thết.
Người nhà bưng mâm lên, ông tađứng dậy thưa:
- Chả mấy khi rồng đến nhà tôm, các ngài có bụng yêu nhà nho thanh bạch
đến chơi, có chén rượu nhạt xin các ngài chiếu cố cho.
Các quan cầm đũa, gắp mấy món. Các quan ăn thấy ngon miệng, liền khề khà
hỏi: đây đĩa gì, kia bát gì...
Nhà nho thong thả nói:
- Ðây là chó, kí cũng là chó, bẩm toàn chó cả . Phê đơn xin li dị
Hai vợ chồng nhà nọ xích mích với nhau đã lâu. Thấy khó lòng chung sống, chị vợ vác đơn lên quan huyện xin li dị để lấy chồng khác. Xem đơn, quan thấy việc xin li dị của chị vợ này khôngchính đáng, hơn nữa thấy chị ta cũng chẳng có lễ lạt gì, nên quan liền phê một câu vào đơn bàng chữ Hán"
"Phố hồi cải giá bất đắc phu cựu",nghĩa là "Cho về lấy chồng không được, cứ chồng cũ". Chị ta không hiểu gì, vội mang đơn về nhờ thầy đồ trong xóm giảng hộ. Xemqua lời phê, thầy đồ biết ý quan huyện, song muốn nhân
dịp này vạch cái dốt mà sính chữ của quan cho thiên hạ thấy.
Ông bảo chị kia:
- Thế là chị toại nguyện rồi đấy nhé. Lời quan phê, rành rành ra đây này.
"Phó hồi cải giá" nghĩa là cho về lấy chồng khác", còn "bất đắc phucựu" nghĩa là "không được trở vềvới chồng cũ".
Ðược lời như cởi tấm lòng, chị kialấy chồng ngay. Tự nhiên mất vợ, người chồng cũ phát đơn lên tỉnh kiện về việc quan huyện vô cớ phê chuẩn cho vợ mình đi lấy chồng khác. Bị quan trên quở trách là không nắm vững luật lệ, là ngu xuẩn, quan huyện tắc họng không dám cãi nửa lời.
Ra khỏi tỉnh đường, quan huyện chửi đổng:
- Cha cái lão thầy đồ nào đã bày cho nó cách ngắt câu!
Từ đó quan cạch đến già không dám phê đơn bằng chữ Hán nữa. Đánh quân ngũ sách
Lính huyện đi tuần đêm, bắt được đám đánh tổ tôm. Sáng hôm sau đem lên
công đường để tâng công.
Quan chưa biết việc gì, cứ bảo nọc ra đánh. Lính cầm roi, hỏi:
- Bẩm quan đánh bao nhiêu ạ?
Quang đang dở ngủ dở thức mơ màng đến quân bài đánh cho cụ thượng ù lúc
gà gáy, bảo:
- Ðánh quân ngũ sách! Đắp chăn
Một anh đi ở cho một lão nhà giàu, lãota hẹn sau mười năm sẽ trả tiền
công cho về mà làm ăn. Ðến kì hạn, lão nhà giàu muốn quịt, bèn đưa ra một
cái chăn vừa ngắn vừa hẹp, bảo:
- Anh phải làm sao đắp cái chăn này cho vừa người tôi thì tôi trả tiền
công cho, bằng không thì một là anh về, hai là ở thêm mười năm nữa, sau đó
tôi trả công cả hai mươi năm choanh luôn thể.
Nói xong, lão nhà giàu nằm thẳng chẳng ra giữa giường. Người lão rất dài,
mà cái chăn thì rất ngắn, nên anhkia cố đắp mãi không xong, đắp được
đằng đầu lại hụt mất đằng chân. Chợt nghĩ ra một mẹo, anh ta cầm chăn đắp
từ trên đầu lão đắp xuống quá đầu gối, rồi lấy gậy vụt tới tấp vàohai ống
chân lão. Lão đau quá co rụt ngaychân lại. Thế là cái chăn đắp lên người
lão vừa khéo. Diêm vương thèm ănthịt
Trên dương thế, có một con lợn bị đem ra giết thịt.
Hồn nó về kâu với Diêm vương. Diêm vương hỏi:
- Nỗi oan ức của nhà ngươi như thế nào, hãy nói rõ đầu đuôi nghe!
- Dạ, họ bắt tôi làm thịt!
- Ðược rồi, hãy khai rõ ràng. Họ làm thịt như thế nào?
- Dạ, trước hết họ trói tôi lại, đè ngửa ra chọc tiết. Xong, họ đổ nước sôi lên mình tôi, cạo lông.
- Rồi sao nữa!
- Cạo sạch rồi họ mổ ra, thịt tôi họ xẻ ra từng mảnh, chặt nhỏ bỏ vào nồi.
Rồi thì... họ bắc chảo đổ mỡ vào, phi hành cho thơm, thêm muối mắm xào lên. ..
- Thôi! Thôi... đừng nói nữa mà tao thèm! Kiện ruồi
Có một anh thật thà chất phác, nhiều khi thật thà chất phác đến nỗi ngớ ngẩn. Năm nọ đến bữa giỗ cha, anh ta mua thịt, gạo nếp về làm cỗ cúng. Mâm cỗ vừa đặt lên bàn thờ, nén hương chưa kịp thắp thì mấy con ruồi láo xược đã dám bậu lên bát nọ, đĩa kia rồi. Anh ta cho là bầy ruồi vô phép, liền làm đơn đến cửa quan kiện.
Nghe anh ta phân xử đầu đuôi, quan phán:
- Từ nay hễ thấy ruồi đậu ta cho phép mày đập.
Nào ngờ, quan vừa xong, một con ruồi từ đâu bay tới, đậu giữa mặt quan.
Anh nông dân giang thẳng cánh tay nhè mặt quan "bốp". Bị tát một cái như trời giáng, quan tức quá mà không làm gì được. Quan và thằng ăn trộm
Lời khai của những người mất trộm, lão huyện thấy đây là một vụ trộm to.Lão sinh lòng tham. Chờ cho những người mất trộm về rồi, lão bắt têntrộm đem nộp cho lão tất cả số tiền và đồ vật đã trộm được, rồi tha về. Từ đó lão huyện quen mùi,hễ thấy đấu mất trộm là kêu ngaytên trộm kia đến, bắt nạp tiền, bằng không lão trị tội. Có đám tên trộm ấy không lấy, nhưng khỏi bị hạch sách lôi thôi, hắn cũng phải lễ quan cho yên tâm.
Về sau tên trộm nghĩ ra một cách: mỗi lần trước khi đi ăn trộm, hắm đến trình quan. Khi đã lấy trộm được rồi, hắm đem nộp quan những vật quý. Tuy vậy lão huyện vẫn chưa mãn nguyện. Lãomuốn cùng đi với tên trộm để chính mắt nhìn thấy những thứ lấy được. Song trước khi đi lão đòi tên trộm đến thử tài cho chắc.
Lão bảo tên bợm:
- Mày có tài ăn trộm vậy mày thế nào lấy được cái quần lĩnh vợ tao đang mặc, thì tao cho là tài. Nhưng tao phải cùm mày ở nhà giam, xem mày có tháo được cùmđể ăn trộm không. Mày bằng lòngchứ?
- Bẩm quan, quan đã thương đếncon, con không dám chối từ.
... Sáng hôm sau, lão huyện đến nhà giam, thấy tên trộm đã lấy được quần vợ mình rồi. Lão lấy làm phục lắm. Lão bảo tên bợm:"Thôi từ nay ta sẽ theo mày đi..."
Ðêm mồng một Tết, tên trộm đưa lão huyện đến một nhà giàu nọ. Hắn đục tường. Cả nhà ngủ say. Hai đức chui vào. Thấy trên bàn thờ còn khói hương nghi ngút và rượu thịt bày đầy, tên trộm bưng xuống: "Mời quan xơi". Hắn nói nhỏ với lão huyện :
- Quan cứ việc ăn uống cho thoả thích, tôi đi rờ một mình, lấy được gì chuyển ra, khi nào đầy gánh. Ăn no, to bãi.
Một vùn nọ, dên kêu ca đói kém, thiếu thốn mọi bề. Ðể kiểm tra tình
hình thực tế, quan đích thân xuống thăm. Quan không cần đi vào nhà dân
chúng để hỏi han, vì quan thừa biết họ sẽ không khai thật. Quan ra đồng,
chỗ dân thường phóng uế.
Sau khi xem xét kỹ lưỡng nhiều nơi quan cho tập họp dân lại rồi phán:
- Ðứa nào kêu đói nữa, tao chém đầu! Tụi bây hãy ra đồng mà xem, đồng nào
đống ấy to tướng. Người đời thường nói: "¡n no to bãi". Tụi bây kêu đói
sao bãi tụi bây lại to vậy? Toàn là một bọn láo toét! Khỉ hiểu tiếng người
Có một ông quan nọ nuôi một con khỉ rất khôn ngoan. Một người hành nghề xiếc muốn trổ tài với chủ nhà, nói rằng y có thể làm cho khỉ cười, khỉ khóc được. Quan hứa sẽ thưởng tiền cho anh ta nếu anh ta thực hiện đượctheo lời nói.
Ðược sự thoả nguyện của quan, anh ta đến thì thầm bên taiphải con khỉ, khỉ cúi đầu chăm chú nghe, rồi bỗng nhiên cười khà khà. Anh ta lại thì thầm bên tai trái, khỉ đột nhiên khóc nức nở. Ðến khi anh ta qua tai phải nói lần thứ hai, khỉ hoảng hốt chạy vào rừng, mất tích.
Thế là quan mất con khỉ. Chẳng những không thưởng tiền cho anh ta, quan lại còn đòi bồi thường công lao dã nuôi khỉ bấy lâu. Anh không chịu, cãi lại vì đã thực hiện đúng như lời đã nói vớichủ nhân. Lời qua tiếng lại, nội vụđược đưa ra toà. Toà thẩm vấn anh xiếc:
- Tại sao nói mà khỉ cười?
- Thưa, tôi nói quan và đồng nghiệp là những người thanh liêm, mẫn cán nhất nước.
- Thế tại sao anh nói mà khỉ lại khóc?
- Tôi nói, thần dân dưới sự cai trị của các ngài đều đói rách cùng cực.
- Thế anh nói gì mà khỉ lại bỏ chạy vào rừng?
- Dạ thưa, tôi nói: Khỉ có muốn làm vợ quan không? Quan sợ ai
Ông quan nọ hống hách hay đánh người, tưởng chừng như không ai to hơnmình nữa. Một hôm, trời mưa, quan rỗi việc bắt chuyện với anh lính hầu cho qua thì giờ. Anh lính hầu mới thủ thỉ hỏi, có vẻ nịnh:
- Bẩm, từ khi ra làm việc, quan có sợ ai không ạ?
Quan vuốt râu tự nói:
- Ta làm quan chỉ đấng minh quân mà thôi.
- Bẩm, thế ông vua ngày nay có phải đấng minh quân không ạ?
- Thằng này hỏi hay chửa? Khôngphải minh quân, sao lại làm được vua?
- Bẩm vua có sợ ai không ạ?
- Vua là Thiên tử, còn sợ ai nữa?
Anh lính ngẫm nghĩ một lúc, rồi thưa:
- Bẩm, con tưởng Thiên tử là con trời thì còn phải sợ trời chứ ạ!
- ừ, thì sợ trời, nhưng trời thì không sợ ai cả.
- Bẩm, con tưởng trời thì phải sợ mây, mây có thể che kính trời.
Nghe nó hỏi cũng có lý, quan bènhỏi gặng:
- Thế mày bảo mây có sợ ai không?
- Bẩm, mây sợ gió, gió thổi bạt mây.
- Thế gió sợ ai?
- Bẩm gió sợ bức tường, tường cản gió lại.
- Bức tường sợ ai?
- Bức tường sợ chuột cống, chuộtcống khoét đổ tường.
- Chuột cống sợ ai?
- Chuột cống sợ mèo.
- Mèo sợ ai?
- Mèo sợ chó.
- Chó sợ ai?
- Bẩm chó mà cắn càn thì có ngàyngười ta vác gậy đánh chết ạ! Rắm của con đấy ạ
Một bà huyện đến chơi nhà chị em, cùng đi có anh đầy tớ theo hầu. Ðương ngồi trò chuyện đông đủ, bà huyện bỗng vãi rắm ra. Anh đầy tớ đứng hầu sau lưng, vội bưng miệng cười. Lúc bấy giờ bà lớn tẽn lắm, nhưng cũng không dám nói gì.
Về đến dinh, bà mới gọi anh đày tớ vào buồng mắng một thôi mộthồi:
- Ðồ ngu! Ðồ ăn hại! Không ra thểthống gì cả! Như người ta thì mày nhận là của mày, có được không? Ðằng này mày lại nhe răng ra mà cười như con khỉ! Bà lại đánh tuốt xác ra bây giờ!
Anh đầy tớ sợ mất vía, vội lui ra, rồi chạy một mạch đến nhà kia, thanh minh với mọi người:
- Bẩm các bà! Cái rắm bà con đánh lúc nãy là của con đấy ạ! Phép lạ của nàng dâu
Thấy con dâu mới cưới về được vài tháng đã xanh xao vàngvọt, bố mẹ chồng để ý theo dõi mới biết nàng dâu vì giữ lễ phép với mình, phải nhịn đánh rắm nên mới như thế.
- Thì con cứ việc đánh đi tội gì mànhịn cho nó khổ!
Bố chồng bảo thế, nhưng cô dâu cho biết cái rắm của cô đánh đâu phải bình thường, mọi đồ đạc phải khuân ra hết và mọi người phải lánh xa không thì hư hại. Ông bèn bảo mọi người làm theoy lời. Và cuối cùng một tràng rắm phát ra như tiếng sấm, căn nhà nghe tiếng răng rắc như có một trận gió mạnh lướt qua. Một hồi lâu mới mở cửa, người ta còn thấy cái hũ treo ở xà nhà vì quên khuấy, mà vẫn còn lúc lắc dữ dội. Từ đó bố chồng nhìn nàng dâu bằng con mắt khác trước, nếu không muốn nói là... kính nể.
Một hôm trên đường đi chợ ông thấy có toán lính chừng vài trăm người đang ra sức đẩy một chiếc thuyền rồng bị mắc cạn trên bãi lầy. Nhưng bao lần tiếng "Hò khoan" cất lên, thuyền vẫn không nhúc nhích. Sốt ruột, ông buột miệng: "Hò khoa hò uậy, không bằng rắm dậy dâu tôi!"
Bị bắt về tội ngạo mạn ông đành cho biết "cái lạ" của nàng dâu. Lập tức, họ bảo ông đưa về để mời cô ra giúp kẻo chậm trễ việc quan. Thế rồi trước mũi thuyền rộng, chị con dâu chổng mông làm một tràng rắm. Chiếc thuyền lao vùn vụt xuống nước. Quan lính nhìn nhau lác mắt. Ẻ đầu vua
Một ông lý, miệng lúc nào cũng lu loa: "Có quan phụ mẫu ở trên đầu".
Thằng bé - con ông - mới dăm bảy tuổi, một hôm thóc mách hỏi bố:
- Ai ở trên đầu cha?
- Quan phụ mẫu.
- Quan phụ mẫu là ai?
- Là quan huyện.
- Trên quan huyện là ai?
- Là quan tỉnh.
- Trên quan tỉnh là ai?
- Là các quan trong triều.
- Trên các quan trong triều là ai?
- Là vua.
- Trên vua là ai?
Ông lý bí. Nhưng sực nhớ mỗi khiđi xem tuồng, thấy vai vua ra sân khấu, khi nào cũng đội mũ có thêu hình hai con rồng chầu một cái hình tròn.
Ông đáp:
- Là con rồng.
- Thế con rồng mót đi ẻ, ẻ đầu vua à?! Quan rẻ thối
Có một ông quan huyện thấy cần phải đi hành hạt để xemdân tình trong huyện đối với mình ra sao. Chọn ngày lành tháng tốt quan lên đường. Ðể cho oai, quan bắt dân phi phải khiêng mình bằng một chiếc võng đòn con thật đẹp. Lại thêm một chiếc lọng xanh do một cậu lính vác cho ra vẻ. Ngày ấy là phiên chợ huyện. Quan muốn dạo chợ. Sắp đến đầu chợ, quan nghe trong một nhà bên phố, tiếng chồng bảo vợ:
- Bà mày hôm nay không mua thịtchớ thịt rẻ lắm. Một quan phải haingười người gánh. Quan thịt rẻ thối như thế không biết đường mà mua.
Nói xong chị ta còn đay lại: "Quanrẻ thối"
Quan huyện biết lão này chửi xỏ mình, tức quá nhưng không biết trị làm sao được. Thấy lính hầu vàdân phu có vẻ đắc ý cười tủm, quan tức quát chạy thẳng, không dạo chợ nữa. Quan lái lợn làm
cụ trong dân
ở hạt nọ, có một tên nghị viên họ Lại, xây một cái sinh phầnđẹp. Tên này giàu có vì làm nghề lái lợn và rất hống hách. Nhiều người ghét hắn.
Một đêm, không rõ ai đã đề đôi câu đối sau ở sinh phần hắn:
- Rực rỡ mé đường Tây, kẻ lại người qua, ca tụng sinh phần quan lớn Lại (quan lái lợn).
- Vang lừng trong thân Bắc, trên kinh dưới rái, một lòng tôn trọng cụ trong dân (rận trong cu). Cấu đối có chí khí.
Ông huyện đi dọc đường, gặp thằng con nít đi học về, mới kêu mà ra câu
hỏi rằng :
- Tự là chữ, cất dằn đầu, chữ tử là con, con nhà ai đó?
Ðứa học trò chí khí đối lại liền :
- Vu là chưng, cất ngang lưng, chữ đinh là đứa, đứa hỏi ta chi?
Ông huyện nghe biết đứa có chí khí, tức lắm mà không làm gì được. 0nline : 1 Hôm nay : 1 Tổng cộng : 141